Chat Zalo
0932091562"
Home / Luận văn thạc sĩ / Luận văn: Quá trình phục dựng di tích và lễ hội đền Tiên (phường Tiên Cát, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ), 2019, HOT!

Luận văn: Quá trình phục dựng di tích và lễ hội đền Tiên (phường Tiên Cát, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ), 2019, HOT!

Các đề án, luận văn, khóa luận tốt nghiệp,… với các ngành nghề khác nhau luôn là chủ đề được tìm kiếm đối với các sinh viên thực tập, thạc sĩ. Luận văn ngành văn hóa học với đề tài “Quá trình phục dựng di tích và lễ hội đền Tiên (phường Tiên Cát, thành phố Việt Trì, tỉnh  Phú Thọ)”  mà hôm nay tailieumienphi.edu.vn giới thiệu tới các bạn đọc. Mong rằng các bạn có tài liệu hữu ích cho việc nghiên cứu của mình!

Các bạn có thể DOWNLOAD phía dưới, hoặc các bạn liên hệ qua SDT/ZALO 0932091562 để được tư vấn và hỗ trợ nhé! THANHKS FOR WATCHING!!!

  1. Tính cấp thiết của đề tài

Từ giữa những năm 1990, có một sự thay đổi dễ nhận thấy là từ khi thực hiện sự nghiệp Đổi mới, cùng với việc đảm bảo ổn định về chính trị, phát triển nền kinh tế – xã hội thì các giá trị văn hóa được quan tâm phát triển. Điều này được thực tế chứng minh, khi kinh tế phát triển, con người có nhu cầu hưởng thụ cao hơn, nhất là nhu cầu hưởng thụ về các giá trị văn hóa nên đầu tư cho văn hóa phát triển để phục vụ lại chính nhu cầu thiết yếu của họ; đồng thời là ý thức về sự “hồi cố” các giá trị văn hóa dân gian truyền thống nên các đình, chùa, đền, miếu và các lễ hội cổ truyền đã được phục hồi. Cùng thời gian này các di tích lịch sử văn hóa và lễ hội ở Việt Trì và các địa phương trong tỉnh Phú Thọ đã được quan tâm đầu tư tu bổ tôn tạo và phục dựng. Tiêu biểu trong đó có di tích Đền Hùng đã được Nhà nước đầu tư tôn tạo chống xuống cấp trong những năm 1994 – 2000. Cũng từ đó một loạt các kiến trúc như đền Hạ, đền Trung, đền Thượng, đền Giếng, Lăng mộ ở Đền Hùng đã được Nhà nước và các tập thể công đức tiền của để tu bổ chống xuống cấp. Từ đó, lễ hội Đền Hùng được khôi phục tổ chức theo nghi thức Nhà nước, có cử đại diện lãnh đạo Bộ Văn hóa (năm 1995, đồng chí Trần Hoàn) về dự và tổ chức lễ hội. Năm 2000, Nhà nước đã tổ chức lễ hội với tầm cỡ quốc gia, người dân về dự lễ hội với tấm lòng hướng về cội nguồn Tổ tiên, tri ân công đức “các vua Hùng đã có công dựng nước” và tự hào về truyền thống dựng nước, giữ nước của cha ông ta xưa. Dựa vào việc Nhà nước phục hồi lại giá trị của tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, hàng loạt các làng xã có di tích và lễ hội liên quan đến thời đại Hùng Vương, đặc biệt là các xã vùng ven Đền Hùng đã lần lượt khôi phục lại các lễ hội. Tiêu biểu như: Lễ hội xuống đồng (Hy Cương), Lễ hội làng He (làng Trẹo, thị trấn Hùng Sơn), Lễ hội rước ông Khiu – bà Khiu (Thanh Đình), Lễ 2 hội Ném chài Vân Luông (Vân Phú – Việt Trì),… ; tu bổ, tôn tạo và phục dựng một số di tích: đình Thanh Đình, đình Tập Lục, Đình Cả (Tiên Kiên)… Ở Việt Trì, chỉ tính riêng địa bàn phương Tiên Cát, từ năm 1995 đến năm 2000 đã tiến hành tôn tạo, phục dựng lại 02 di tích tín ngưỡng, 01 nhà thờ họ Giáo và đang tiếp tục tôn tạo phục dựng 01 ngôi chùa. Chỉ trong phạm vi địa bàn một phường mà có đến 04 di tích tôn giáo, tín ngưỡng được tôn tạo, phục hồi lại trong thời gian từ sau đổi mới (1995) đến nay. Từ việc tìm hiểu nghiên cứu của chúng tôi về vấn đề phục hồi này tại địa phương, đặt ra một số vấn đề nghiên cứu: Phục hồi kinh tế tác động như thế nào đến tôn giáo? Sự thay đổi về chính trị hay sự cởi mở trong chính sách của Đảng, Nhà nước tác động như thế nào đến thực hành tôn giáo? Nhu cầu của người dân về tôn giáo trong bối cảnh hiện đại? Từ những vấn đề đặt ra đó, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu về “Quá trình phục dựng di tích và lễ hội đền Tiên (phường Tiên Cát, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ)” như một nghiên cứu trường hợp để trả lời cho các vấn đề nghiên cứu nêu trên.

  1. Tình hình nghiên cứu để tài

Di tích và lễ hội với vai trò là thành tố của văn hóa, đã được các nhà nghiên cứu chú ý đến từ nửa đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên các nhiên cứu lúc này mới chỉ dừng lại ở các thuật ngữ “hội hè”, “hội” như: “Hội Phù Đổng (Một trận đánh thần kỳ trong truyền thuyết Việt Nam)” của Nguyễn Văn Huyên hay Đào Duy Anh trong Việt Nam văn hóa sử cương có nhắc đến lễ hội “Hiện nay ít nhiều địa phương vẫn còn những lễ, những hội..”.

Tác giả Toan Ánh qua cuốn Nếp cũ – Hội hè đình đám cũng vẫn dùng thuật ngữ “hội hè”, theo ông “Trong hội thường có nhiều trò vui gọi là bách hí”, tuy nhiên, hội hè không chỉ có mục đích mua vui mà là để dân làng bày tỏ lòng thành kính với Thành hoàng làng…

Những năm Đổi mới (từ những năm 90 của thế kỷ 20) về sau này, cùng với sự khôi phục các di tích tín ngưỡng, các lễ hội dân gian thì các nghiên cứu về lễ hội được phổ biến hơn và đã trở thành nền tảng cho quá trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu sau này. Trên phương diện lý thuyết, nghiên cứu về lễ hội không còn mang tính “đóng băng” truyền thống mà được phân tích trong sự biến đổi và mối quan hệ với các nhân tố lịch sử, kinh tế, chính trị. Cuốn Lễ hội cổ truyền (1992) của Viện Nghiên cứu Văn hóa dân gian (Lê Trung Vũ chủ biên, Phan Đăng Nhật, Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Xuân Kính… ).

Theo các tác giả thì về mặt lịch đại, lễ hội “là một pho lịch sử khổng lồ, ở đó tích tụ vô số những lớp phong tục, tín ngưỡng, văn hóa, nghệ thuật và các sự kiện xã hội – lịch sử quan trọng của đất nước. Hơn thế nữa, lễ hội còn là một bảo tàng sống về các mặt sinh hoạt văn hóa tinh thần của người Việt” (Phan Đăng Nhật,1992:13).

“Một vài công trình công bố trong những năm gần đây cũng giúp chúng ta, những người nghiên cứu lễ hội, tin rằng các thần thoại, các thần linh, các cách thờ thần được ghi khắc trên bốn trống đồng là một sự tiếp nối nhau, liên tục ghi nhận nguồn gốc và quá trình văn hóa của người Việt cổ đại, kéo dài qua trung đại. Và chắc chắn không hề suy suyển cho đến tận ngày nay…” (Đặng Văn Lung. 2005). Có nghiên cứu so sánh lễ hội của các xã hội kém phát triển là “hóa thạch sống” của các xã hội tiến hóa hơn, là nơi lưu giữ các yếu tố “nguyên thủy” của lễ hội: “Có nhiều lễ hội, nhất là ở các vùng dân tộc ít người, gợi ra cảm xúc về những kỷ niệm về thời gian sơ khai của người nguyên thủy, những hồi quang của các thời đại xa xôi, thời kỳ “đau đẻ của vũ trụ” (Vũ Ngọc Khánh. 2012). Đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu lễ hội để thấy được sự tác động của nền kinh tế thị trường vào lễ hội, tín ngưỡng ngày nay cuốn Sự tác động của kinh tế thị trường vào lễ hội tín ngưỡng (Lê Hồng Lý. 2008), Cuốn Lễ hội dân gian (giáo trình sau Đại học) do các tác giả Lê Trung Vũ, Lê Hồng Lý, Nguyễn Phương Châm biên soạn, các tác giả đã nêu lên quá trình vận động của lễ hội dân gian nước ta qua các thời kỳ, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu lễ hội, trong đó có nhấn mạnh “Người nghiên cứu cần thiết chú ý đọc các tài liệu xung quanh vấn đề nghiên cứu và các khái niệm liên quan đến chủ đề nghiên cứu” (2014:240). Ngoài ra, các tác giả như Phan Ngọc đã đề cập trong tác phẩm của mình các vấn đề như “bản sắc” và “bề dày” của văn hóa cũng như giá trị văn hóa truyền thống trong đời sống ở một số lĩnh vực như quản lý xã hội, tôn giáo tín ngưỡng… Các nghiên cứu của các tác giả đã đóng góp quan trọng vào việc nhận diện lễ hội mà trong đó nó được coi như là thành tố của văn hóa. Bước sang thế kỷ 21, lễ hội đã qua thời kỳ “bùng phát”, đi vào ổn định, trở thành một bộ phận không thể thiếu của người dân, “là thành tố không thể thiếu trong bức tranh văn hóa” [2014, tr 44]. Vì vậy các nghiên cứu về lễ hội tiếp tục được thực hiện, không chỉ các nhà nghiên cứu trong nước mà cả nước ngoài đều nghiên cứu. Kleinen, John trong cuốn Làng Việt – đối diện tương lai hồi sinh quá khứ đã nêu: “Sự nổi lên gần đây của những vấn đề liên quan đến tôn giáo và đời sống nghi lễ của người dân không đơn giản chỉ là sự thức tỉnh và phục hồi mạnh mẽ của niềm tin và các tín ngưỡng trước năm 1945. Một sự cơ cấu sâu sắc đã được thực hiện nhờ cả sự ảnh hưởng của chủ nghĩa Marx” hay “Việt Nam trải qua một quá trình đổi mới toàn diện với nền kinh tế thị trường và sự độc lập hơn của địa phương…Mặc dù không chủ tâm song nó đã tạo cơ hội cho việc phục hồi lại các tập tục văn hóa và tôn giáo địa phương” (2007, tr 239). Trên địa bàn tỉnh Phú Thọ hiện nay có 307 di tích và gần 400 lễ hội. Trong đó có những lễ hội mang tầm cỡ quốc gia như Lễ hội Đền Hùng, các nghiên cứu chuyên đề hay nghiên cứu chuyên sâu đã được thực hiện. Các di tích trên địa bàn đều được nghiên cứu, sưu tầm và giới thiệu trên các sách, báo, tạp chí… Các nghiên cứu về di tích đền Tiên cơ bản đi vào mô tả được diện mạo, hình thức, truyền thuyết về nhân vật phụng thờ của di tích và lễ hội như: “Đền Tiên thờ Thủy tổ Quốc Mẫu” – Di tích lịch sử văn hóa thời đại Hùng Vương trên đất Việt Trì (2006); Cuốn: Đền thờ Thủy tổ Quốc Mẫu (2014) của Lương Nghị, Hoàng Đạo Lý; Cuốn Lý lịch di tích đền Tiên của Nguyễn Anh Tuấn, Lê Công Luận, các tác giả đã sưu tầm biên soạn về kiến trúc, nhân vật thờ phụng. Ngoài ra, các sách: Thống kê lễ hội Việt Nam (2008) đã thống kê các di tích có liên quan thờ cúng Hùng Vương và nhân thần gồm 1470 di tích, trong đó đền Tiên thuộc thành phố Việt Trì; Cuốn Địa chí Vĩnh Phú văn hóa dân gian vùng đất Tổ (1986) do Ngô Quang Nam, Xuân Thêm biên soạn giới thiệu về phong tục tập quán, tín ngưỡng, lịch sử, văn hóa, con người vùng đất Tổ. Các bài viết về lễ hội đền Tiên trên các trang báo điện tử Phú Thọ, báo Quân đội nhân dân online… Các sách nêu trên đã đề cập đến di tích và lễ hội đền Tiên, song chỉ dừng lại ở ở cấp độ giới thiệu hoặc có tính chất giới thiệu chung chung. Vì vậy trong luận văn này, trên cơ sở kế thừa có chọn lọc, tiếp thu các nghiên cứu về mối quan hệ giữa các mặt kinh tế, chính trị, người dân với tôn giáo trong bối cảnh đương đại.

  1. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

– Hệ thống lại các nguồn tài liệu; kết hợp với khảo sát, nghiên cứu thực tiễn để tìm hiểu quá trình phục dựng di tích, lễ hội đền Tiên để tìm hiểu mối quan hệ giữa các mặt kinh tế, chính trị, người dân với tôn giáo trong bối cảnh đương đại.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Tìm hiểu quá trình phục dựng di tích và lễ hội tại đền Tiên phường Tiên Cát, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ để trả lời các vấn đề: Phục hồi kinh tế tác động như thế nào đến tôn giáo? Sự thay đổi về chính trị hay sự cởi mở 6 trong chính sách của Đảng, Nhà nước tác động như thế nào đến thực hành tôn giáo? Nhu cầu của người dân về tôn giáo trong bối cảnh hiện đại?

  1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 4.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu về quá trình phục dựng di tích và lễ hội đền Tiên, phường Tiên Cát, thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Không gian: phường Tiên Cát, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ – nơi di tích và lễ hội tồn tại.

Thời gian: Từ khi được phục dựng cho đến nay.

  1. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

 5.1. Phương pháp luận

Đề tài luận văn thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác – Lê nin, trong đó chủ yếu sử dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để làm phương pháp cho việc nghiên cứu.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng cách tiếp cận nghiên cứu liên ngành: Văn hóa dân gian, lịch sử, tôn giáo học… để thực hiện mục tiêu đặt ra của đề tài. Khi nghiên cứu về lịch sử và quá trình phục dựng di tích, tác giả đã vận dụng phương pháp phỏng vấn hồi cố, quan sát tham dự qua hình thức gặp gỡ trò chuyện các thành viên trong Ban quản lý đền, khách đi lễ và tham dự nhiều hoạt động tại di tích. Tác giả đã đến nhà của các nhân chứng còn sống – là những người biết đến sự hiện diện của ngôi đền thờ Mẫu và chứng kiến tất cả biến động lịch sử của dân tộc và của địa phương từ thời kỳ kháng chiến chống thực dân pháp, đế quốc Mỹ đến thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội bảo vệ đất nước, để gặp gỡ nói chuyện nhằm thu thập được tối đa những lượng thông tin còn lại từ quá trình xin phục dựng lại ngôi đền, quá trình xây dựng và thực hiện tín ngưỡng hiện nay. Tại đền thờ Thủy tổ Quốc Mẫu, tác giả cũng đã tham dự vào các hoạt động tín ngưỡng, tham dự các hoạt động tiếp nhận công đức của các tập thể, các nhân giành cho đền. Đồng thời tiến hành phỏng vấn, thu thập các tài liệu lịch sử của một số nhà nghiên cứu địa phương, một số người đang làm việc và sinh sống trên địa bàn thuộc phường và thành phố Việt Trì nhằm thu thập lượng thông tin mang tính khoa học cho đề tài luận văn này.

  1. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Trên cơ sở kế thừa những thành quả của người đi trước, kết hợp với việc nghiên cứu tìm hiểu, khảo sát trực tiếp tại di tích đề tài có những đóng góp sau:

– Tìm hiểu, nghiên cứu khá toàn diện về quá trình phục dựng di tích và lễ hội đền Tiên và những tác động của bối cảnh xã hội đã tác động đến việc phục dựng di tích và lễ hội.

– Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tư liệu để tuyên truyền cho nhân dân hiểu rõ hơn về giá trị của ngôi đền và quá trình phục dựng di tích lễ hội. Từ đó nâng cao tinh thần trách nhiệm của nhân dân với việc tôn tạo, phục dựng để di tích ngày càng được phát huy giá trị trong đời sống, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân và giáo dục truyền thống “uống nước nhớ nguồn” cho thế hệ tiếp nối.

  1. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

  • Chương 1: Tổng quan về vùng đất Tiên Cát, Việt Trì, Phú Thọ
  • Chương 2: Quá trình phục dựng di tích và lễ hội đền Tiên
  • Chương 3: Luận bàn về việc phục dựng di tích và lễ hội

Giá Tài Liệu Này: 100000 VNĐ

thanh toán

About Thủy Nguyễn

Check Also

Luận văn: Giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk, 2019, HOT!

Khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề thực tập hay những luận văn thạc sĩ là …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!